Hiển thị các bài đăng có nhãn dich-vu-ke-toan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dich-vu-ke-toan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

Nhiều doanh nghiệp dịch vụ kế toán sẽ biến mất

Nhiều doanh nghiệp dịch vụ kế toán sẽ biến mất

(TBKTSG) - Dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán (sau đây gọi tắt là dự thảo) đã được Bộ Tài chính trình Chính phủ và đưa ra trưng cầu ý kiến góp ý. Dự thảo chỉ sửa 10 điều của Luật Kế toán được Quốc hội thông qua năm 2003, trong đó, điều 55 về hành nghề kế toán được chia thành chín điều, từ 55a đến 55k. Nội dung bổ sung quan trọng nhất là đặt ra những điều kiện hành nghề khắt khe hơn.

Hành nghề kế toán phải tuân thủ những điều kiện khắt khe hơn. Ảnh minh họa, TL SGT
Không cần thiết và thiếu tính khả thi
Điều 55d về điều kiện cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán quy định công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên phải có đủ các điều kiện: a) Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật; b) Có ít nhất ba kế toán viên hành nghề, trong đó tối thiểu phải có hai thành viên góp vốn; c) Người đại diện theo pháp luật, giám đốc hoặc tổng giám đốc phải là kế toán viên hành nghề; d) Bảo đảm vốn pháp định theo quy định của Chính phủ; đ) Phần vốn góp của người có chứng chỉ hành nghề kế toán phải chiếm trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp; phần vốn góp của các thành viên là tổ chức không quá 35% vốn điều lệ của công ty.
Những điều kiện nêu trên là không cần thiết. Ban soạn thảo đã áp đặt những quy định đối với quản lý hoạt động kinh doanh của lĩnh vực kiểm toán độc lập cho dịch vụ kế toán. Trong khi đó, từ phạm vi hoạt động đến giá trị pháp lý của kết quả giữa dịch vụ kế toán và kiểm toán độc lập có sự khác nhau rất cơ bản.
Kiểm toán độc lập có báo cáo kiểm toán riêng và báo cáo này được sử dụng với nhiều mục đích như tham gia đấu thầu, vay vốn, liên doanh, liên kết, chia lợi nhuận... Ngược lại, các sổ sách kế toán và báo cáo tài chính do doanh nghiệp dịch vụ kế toán lập cho khách hàng, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp khách hàng vẫn phải ký và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Hơn nữa, các sổ kế toán và báo cáo tài chính này, trong phần lớn trường hợp, chỉ phục vụ mục đích kê khai, quyết toán thuế. Vì vậy, yêu cầu “có ít nhất ba kế toán viên hành nghề, trong đó tối thiểu phải có hai thành viên góp vốn” là quá mức cần thiết.
Điều kiện “người đại diện theo pháp luật, giám đốc hoặc tổng giám đốc công ty TNHH phải là kế toán viên hành nghề” cũng là điều kiện vô lý. Bởi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm toàn diện về mọi hoạt động của doanh nghiệp nên phải có kinh nghiệm quản lý, kiến thức tương đối toàn diện. Không phải bất cứ ai có chứng chỉ hành nghề kế toán cũng có kinh nghiệm trong quản lý doanh nghiệp. Do đó, chỉ cần quy định giám đốc (hoặc tổng giám đốc) doanh nghiệp dịch vụ kế toán phải có chứng chỉ hành nghề kế toán và chỉ người có chứng chỉ hành nghề kế toán mới được ký hợp đồng dịch vụ kế toán là đủ.
Điều kiện “bảo đảm vốn pháp định theo quy định của Chính phủ” lại là một “sáng tạo” lạ đời! Bởi lẽ dịch vụ kế toán không đòi hỏi vốn lớn, cũng không phải là lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm có thể phải bồi thường vật chất đến mức phải quy định vốn pháp định. Những rủi ro thường gặp trong dịch vụ kế toán đều có nguyên nhân từ sự không hợp pháp của chứng từ, tài liệu được sử dụng trong công tác kế toán. Song, các hợp đồng dịch vụ kế toán đều quy định về trách nhiệm của khách hàng là “chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự hợp pháp của chứng từ, tài liệu kế toán được cung cấp để sử dụng trong công tác kế toán”. Do đó, những khoản mà doanh nghiệp dịch vụ kế toán phải bồi thường cho khách hàng (nếu có) thường chỉ là phạt vi phạm hành chính từ những lỗi kỹ thuật của kế toán viên.
Quy định “phần vốn góp của người có chứng chỉ hành nghề kế toán phải chiếm trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp...” là không khả thi. Bởi lẽ dịch vụ kế toán là lĩnh vực “năng nhặt, chặt bị”, không phải cứ có chứng chỉ hành nghề là đã có tiền để góp vốn thành lập doanh nghiệp. Chẳng hạn một công ty TNHH có năm thành viên (trong đó, ba thành viên có chứng chỉ hành nghề kế toán) có vốn điều lệ 1 tỉ đồng, thì ba thành viên có chứng chỉ hành nghề phải góp ít nhất 505 triệu đồng. Rất ít người có đủ số tiền theo yêu cầu trên để góp vốn.
Đi ngược lại yêu cầu cải cách thủ tục hành chính
Theo quy định của Luật Kế toán hiện hành, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán chỉ cần có hai người có chứng chỉ hành nghề và đăng ký hành nghề với Hội Kế toán - Kiểm toán Việt Nam (VAA). Song, theo dự thảo sửa đổi, doanh nghiệp phải xin cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán với quy định về hồ sơ gồm: 1. Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán; 2. Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy chứng nhận đầu tư; 3. Bản sao giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kế toán của các kế toán viên hành nghề; 4. Hợp đồng lao động làm toàn bộ thời gian của các kế toán viên hành nghề; 5. Tài liệu chứng minh về vốn góp đối với công ty TNHH; 6. Các giấy tờ khác do Bộ Tài chính quy định.
Như vậy, có hai giấy phép con xuất hiện là giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kế toán của các kế toán viên hành nghề và giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán. Điều này đi ngược lại yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.
Điều ngạc nhiên lớn nhất là những người đã đủ những tiêu chuẩn khá cao và có tới năm năm làm kế toán phải qua một kỳ thi quốc gia mới có thể lấy được “chứng chỉ hành nghề kế toán”. Bản thân chứng chỉ hành nghề đã là một “giấy phép con”, nhưng để được hành nghề lại phải xin cấp giấy chứng nhận hành nghề? Phải chăng giấy chứng nhận hành nghề có giá trị pháp lý cao hơn chứng chỉ hành nghề và có một “giấy phép con” mới chồng lên “giấy phép con” cũ?
Hơn nữa, trong cải cách thủ tục hành chính, để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, với những lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, luật pháp cho phép có hai trường hợp: phải được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh và được phép kinh doanh khi có đủ điều kiện. Dịch vụ kế toán ở trường hợp thứ hai đã thực hiện từ năm 2007 đến nay. Không biết vì lý do gì, Bộ Tài chính lại “nâng cấp” dịch vụ kế toán lên ngang tầm với kiểm toán độc lập và các ngân hàng, công ty chứng khoán? Và còn không biết “các giấy tờ khác do Bộ Tài chính quy định” sẽ là những giấy tờ gì nữa? Rất có thể khi luật đã cho phép, một thông tư của Bộ Tài chính sẽ “đẻ” thêm những thủ tục khác chỉ để... “hành” doanh nghiệp!
Nếu những quy định vô lý, thiếu tính khả thi như trên được thông qua, trong những năm tới sẽ có nhiều doanh nghiệp dịch vụ kế toán biến mất trên thị trường. Sự biến mất của các doanh nghiệp theo một trong hai cách. Thứ nhất là chấm dứt hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán vì chủ doanh nghiệp không đủ sức (cả về thời gian lẫn tiền bạc) để “xin” các giấy phép con. Thứ hai là không đăng ký hành nghề, không xin giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh nhưng vẫn vô tư kinh doanh dịch vụ kế toán. Chắc chắn sự “biến mất” theo cách thứ hai sẽ gia tăng. Bộ Tài chính có đủ lực lượng để kiểm tra xử phạt?

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014

Những “giấy phép con”... kỳ lạ!

Từ năm 2004, khi Luật Kế toán có hiệu lực, dịch vụ kế toán trở thành lĩnh vực kinh doanh có điều kiện. Dự thảo Luật SĐBS Luật Kế toán được Bộ Tài chính hoàn thành quy định thêm những điều kiện khắt khe với DN kinh doanh dịch vụ kế toán.

Ảnh: vneconomy
Ví dụ, về đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán, điều 55b dự thảo luật quy định: "1. Người có đủ các điều kiện được đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan; Có Chứng chỉ hành nghề dịch vụ kế toán theo quy định của Bộ Tài chính... 2. Người có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 thực hiện đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán theo quy định".
Về điều kiện cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán, khoản 1, điều 55d dự thảo luật quy định: "1. Cty TNHH 2 thành viên trở lên khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán phải có đủ các điều kiện sau đây: Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký DN hoặc Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật; Có ít nhất 3 kế toán viên hành nghề, trong đó tối thiểu phải có 2 thành viên góp vốn; c) Người đại diện theo pháp luật, GĐ hoặc TGĐ phải là kế toán viên hành nghề; Phần vốn góp của những người có chứng chỉ hành nghề dịch vụ kế toán phải chiếm trên 50% vốn điều lệ của DN...".
"Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán theo quy định của Bộ Tài chính" là một "giấy phép con" kỳ lạ. Bởi, một kế toán viên 5 năm công tác lại phải trải qua một kỳ thi quốc gia mới lấy được "chứng chỉ hành nghề kế toán", nhưng để được hành nghề lại phải xin " Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề"!
Thứ hai, yêu cầu "Có ít nhất 3 kế toán viên hành nghề" là không khả thi. Từ năm 2005 đến nay, mỗi năm Bộ Tài chính chỉ tổ chức thi cấp Chứng chỉ hành nghề kế toán một lần và mỗi lần chỉ cấp được 25 -30 chứng chỉ. Như vậy, tổng số nguời được cấp Chứng chỉ hành nghề kế toán chỉ vào khoảng 300 người, như vậy, lấy đâu ra số nguời có chứng chỉ hành nghề cho đủ theo quy định?
Thứ ba, quy định "trong đó tối thiểu phải có 2 thành viên góp vốn" là quá mức cần thiết. Bởi, người có chứng chỉ hành nghề không bắt buộc phải góp vốn vào Cty, mà được phép làm việc theo hợp đồng lao động. Quy định đó sẽ gây khó khăn lớn cho việc thành lập DN dịch vụ kế toán khi không thể thuyết phục được người có chứng chỉ hành nghề tham gia góp vốn. Quy định "Người đại diện theo pháp luật, GĐ hoặc TGĐ phải là kế toán viên hành nghề" cũng vô lý. Không phải ai có "chứng chỉ hành nghề kế toán" là có kinh nghiệm quản lý DN. Dịch vụ kế toán không đòi hỏi vốn lớn, không phải lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm có thể phải bồi thường vật chất đến mức phải quy định vốn pháp định. Quy định "Phần vốn góp của người có chứng chỉ hành nghề kế toán phải chiếm trên 50% vốn điều lệ của DN..." không khả thi.
Dịch vụ kế toán là lĩnh vực "năng nhặt, chặt bị", không phải cứ có chứng chỉ hành nghề kế toán là đã có tiền góp vốn thành lập DN. Điều quan trọng là quy định hệ thống với 8 giấy phép con... 82 DN dịch vụ kế toán đã đăng ký hành nghề với Hội Kế toán và Kiểm toán VN. Các DN dịch vụ kế toán hoạt động hợp pháp đã và đang phải cạnh tranh khốc liệt với lực lượng làm dịch vụ kế toán bất hợp pháp (không có chứng chỉ hành nghề, không đăng ký hành nghề), hoạt động dịch vụ kế toán của các Cty kiểm toán độc lập và các DN tư vấn thuế.
Với chức năng quản lý nhà nước, Bộ Tài chính cần hỗ trợ DN dịch vụ kế toán tồn tại và hoạt động, có những biện pháp nhằm hạn chế hoạt động của lực lượng "kế toán chạy sô", đơn giản hóa thủ tục hành chính, quản lý về chất lượng dịch vụ, thay vì đặt ra “giấy phép con” để “hành” DN!

Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014

Đổi mới hệ thống kế toán, kiểm toán Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập

(Tài chính) Kế toán, kiểm toán được đánh giá là hoạt động nhạy cảm và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Ứng phó với thách thức của hội nhập quốc tế sâu rộng, hệ thống kế toán, kiểm toán Việt Nam đã và đang đổi mới, xây dựng một hệ thống quản lý tài chính tiên tiến, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế.


Kế toán, kiểm toán được đánh giá là hoạt động nhạy cảm và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Nguồn: internet
Phát triển cả về "lượng" và "chất"
Thực tiễn cho thấy, hệ thống chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế đã có nhiều đổi thay trong thời gian qua. Chuẩn mực kế toán, kiểm toán Việt Nam đến nay đã có sự điều chỉnh tương ứng nhằm phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Có thể nói, sau 20 năm hội nhập và phát triển, đến nay lĩnh vực này đã đạt được nhiều kết quả ấn tượng. Cụ thể:
- Về cơ chế chính sách: Hệ thống văn bản pháp lý về kế toán, kiểm toán Việt Nam đã được kiện toàn. Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính đã ban hành và cập nhật kịp thời hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho lĩnh vực kế toán, kiểm toán hoạt động: Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2005, Luật Kiểm toán độc lập năm 2011, Luật Kế toán năm 2013 và nhiều văn bản dưới luật khác. Đặc biệt, Bộ Tài chính đã công bố 26 Chuẩn mực kế toán quốc tế, kể cả Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán. Đồng thời với đó, cuối năm 2012, Bộ Tài chính đã cập nhật và ban hành lại 37 Chuẩn mực kiểm toán (CMKiT) Việt Nam phù hợp với CMKiT của quốc tế…
- Các quy định về pháp lý cho hoạt động kế toán, kiểm toán đã được ban hành như: Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Thống kê, các Nghị định của Chính phủ về quy chế kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân, thông tư và quyết định về tổ chức thi tuyển cấp bằng kiểm toán viên, quy định về đăng ký hành nghề kiểm toán… Tất cả tạo nền tảng cho thực hành công việc kế toán, lập báo cáo tài chính và thực hành kiểm tra, giám sát, kiểm toán báo cáo tài chính trong lĩnh vực doanh nghiệp cũng như Nhà nước và nâng cao độ tin cậy của nhà đầu tư và xã hội vào sự công khai, minh bạch của thị trường tài chính.
- Về ngun nhân lực: Đội ngũ những người hành nghề kế toán, kiểm toán đang ngày càng phát triển nhanh về cả lượng lẫn chất. Việt Nam đã tạo được mối quan hệ với các tổ chức quốc tế, là thành viên của Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC), Liên đoàn Kế toán các nước ASEAN (AFA). Nhiều tổ chức nghề nghiệp kế toán quốc tế lớn và đang có nhiều hoạt động tích cực tại Việt Nam như Hiệp hội kế toán công chứng Anh Quốc (ACCA), Hội kế toán công chứng Australia (CPA Australia) trong các lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tổ chức hội thảo chuyên ngành, cập nhật kiến thức cho những người làm Kế toán, Kiểm toán. Từ đó tạo lập được môi trường thông thoáng, bình đẳng và hội nhập với khu vực và thế giới.
- Về thực trạng và tình hình hoạt động: Nhờ có hành lang pháp lý khá hoàn thiện và nguồn nhân lực được đào tạo bài bản, hoạt động kiểm toán, kế toán của Việt Nam đã và đang phát triển mạnh mẽ, từ chỗ chỉ có 2 công ty với 13 nhân viên (năm 1991) đến nay con số này đã tăng lên hơn 160 công ty kiểm toán kiểm toán độc lập hoạt động dưới các hình thức công ty TNHH, công ty tư nhân, công ty liên doanh và công ty hợp danh. Các công ty này đã xây dựng được mạng lưới chi nhánh tại hầu hết các thành phố và các tỉnh trọng điểm trên khắp cả nước.
Theo số liệu của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), hiện đang có 11.000 người tham gia làm việc trong lĩnh vực này, trong đó có 2.800 người đã được cấp chứng chỉ kiểm toán viên Việt Nam, 500 người đạt chứng chỉ kiểm toán viên quốc tế và mỗi năm cung ứng trên 20 loại hình dịch vụ cho 33.000 khách hàng… Sự phát triển cả về số lượng, chất lượng đã từng bước khẳng định vị trí hoạt động nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam trong khu vực và quốc tế.
Ngoài số lượng, quy mô của các hoạt động kế toán, kiểm toán cũng được quan tâm, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng và ổn định kinh tế trong nước. Hiện các cơ quan chức năng cũng đã chú trọng tới việc phát triển dịch vụ kế toán, kiểm toán theo xu hướng phát triển của các nước trong khu vực và quốc tế, tạo dựng và mở rộng giao lưu nghề nghiệp. Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 7 của Liên đoàn kế toán các nước ASEAN (AFA) và trở thành thành viên thứ 130 của Liên đoàn quốc tế (IFAC) - một tổ chức có quy mô toàn cầu của các tổ chức quốc gia về kế toán. Đặc biệt, kể từ sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO), việt Nam đã cam kết không hạn chế, không ngoại trừ về dịch vụ kế toán - kiểm toán. Để được thành lập, hiện diện thương mại của doanh nghiệp nước ngoài, phải có ít nhất 05 người có chứng chỉ kiểm toán viên do Bộ Tài chính Việt Nam cấp và đã hành nghề ở Việt Nam trên một năm, không hạn chế đối xử quốc gia…
Trước đó, trong những cam kết ASEAN về dịch vụ hỗ trợ kinh doanh (phân ngành dịch vụ, kế toán, kiểm toán và tư vấn thuế), thời gian đầu, Việt Nam chỉ cho phép 06 công ty dịch vụ kế toán, kiểm toán nước ngoài hiện đang hoạt động tại Việt Nam cung cấp dịch vụ, không cho phép thành lập thêm công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Các công ty kiểm toán 100% vốn nước ngoài trước hết chỉ được phép cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và dự án do nước ngoài tài trợ vốn. Các cá nhân tham gia cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán hoặc tư vấn tài chính phải đăng ký hành nghề tại một tổ chức kế toán, kiểm toán độc lập hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, có chứng chỉ hành nghề kế toán, kiểm toán của Việt Nam (CPA) hoặc kiểm toán viên cấp quốc gia được Bộ Tài chính Việt Nam thừa nhận và đăng ký trong danh sách kiểm toán viên theo quy định của Bộ Tài chính.
Ngoài ra, thực hiện cam kết trong Hiệp định thương mại Việt - Mỹ (có hiệu lực năm 2001), Việt Nam đã mở cửa thị trường kế toán, kiểm toán cho liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài của Mỹ sau 03 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực; Bỏ giới hạn phạm vi hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sau 03 năm tiếp theo kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Sau 02 năm, các công ty Hoa Kỳ được phép kinh doanh trong các lĩnh vực bình đẳng như các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán trong nước…
Bên cạnh những thuận lợi trên, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, hệ thống kế toán, kiểm toán Việt Nam sẽ còn tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn từ nhiều phía. Đó là hệ thống văn bản pháp luật về kế toán, kiểm toán còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa thật sự phù hợp với thông lệ quốc tế; Chưa trở thành chuẩn mực kiểm tra, kiểm soát hoạt động của kinh tế thị trường.
Còn rất nhiều câu hỏi đặt ra từ thực tiễn yêu cầu cần có lời giải đáp, điển hình như việc tồn tại đồng thời chế độ kế toán doanh nghiệp và chuẩn mực kế toán có làm cản trở việc áp dụng chuẩn mực kế toán, làm mất đi tính linh hoạt của người làm kế toán hay không? Vai trò của ngành Thuế đối với hoạt động kế toán, kiểm toán trong bối cảnh mới như thế nào? Công tác đào tạo phải thay đổi như thế nào để đáp ứng sự thay đổi về hệ thống văn bản pháp lý về kế toán, kiểm toán?...
Hoạt động kiểm toán, kế toán của Việt Nam đã và đang phát triển mạnh mẽ, từ chỗ chỉ có 2 công ty với 13 nhân viên (năm 1991) đến nay con số này đã tăng lên hơn 160 công ty kiểm toán kiểm toán độc lập hoạt động dưới các hình thức công ty TNHH, công ty tư nhân, công ty liên doanh và công ty hợp danh. Các công ty này đã xây dựng được mạng lưới chi nhánh tại hầu hết các thành phố và các tỉnh trọng điểm trên khắp cả nước.
Một số đề xuất, kiến nghị
Từ những phân tích trên có thể thấy, hội nhập kinh tế với thế giới là xu hướng tất yếu, là đòi hỏi khách quan. Do đó, thời gian tới, Việt Nam cần phải đánh giá, phân tích tình hình hệ thống kế toán, kiểm toán, để từ đó có những lộ trình đổi mới thích hợp, đáp ứng với sự phát triển của nền kinh tế. Tiến trình hội nhập quốc tế của hệ thống kế toán, kiểm toán tại Việt Nam đòi hỏi nỗ lực từ nhiều phía Nhà nước, doanh nghiệp... Trong thời gian tới, các cơ quan chức năng liên quan cần tập trung chú ý vào một số nội dung trọng tâm cụ thể sau:
Thứ nhất, cần xây dựng bổ sung một số chuẩn mực kế toán phù hợp với thực tiễn Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế. Để thực hiện được điều này, các chuyên gia có kinh nghiệm đến từ Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, các hội nghề nghiệp, các công ty dịch vụ kế toán, kiểm toán, các trường đại học… cần có sự phối hợp chặt chẽ và thường xuyên về mặt chuyên môn nhằm xây dựng nên một chuẩn mực kế toán, kiểm toán có chất lượng.
Hiện nay, thị trường tài chính Việt Nam đang có nhiều chuyển biến và phát sinh nhiều nghiệp vụ phức tạp nhưng các chuẩn mực hỗ trợ việc ghi nhận cho một số loại hình công cụ tài chính vẫn thiếu vắng. Đây là một minh chứng cho việc ban hành chuẩn mực kế toán hiện nay ở Việt Nam chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn. Do đó, yêu cầu trước mắt là cần thiết phải sớm ban hành các chuẩn mực còn thiếu so với nhu cầu thực tế, trong đó tiền đề là việc hợp tác quốc tế. Các cơ quan Nhà nước cần phải nỗ lực hợp tác quốc tế trong việc trao đổi kinh nghiệm, cập nhật kiến thức mới; Kết hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ chức về kế toán, kiểm toán quốc tế. Đồng thời, cần phải học hỏi và tham khảo, chọn lọc thành tựu của các nước tiên tiến trong khu vực, để áp dụng phù hợp với môi trường và quy định tại Việt Nam.
Thứ hai, xây dựng cơ sở hạ tầng và nâng cao trình độ của những người tham gia hoạt động kế toán, kiểm toán: Nâng cao trình độ nguồn nhân lực kế toán, kiểm toán quốc gia là cơ sở để bảo đảm sự hiểu biết và giải thích đúng đắn cũng như sự áp dụng nhất quán các chuẩn mực. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện các phần mềm kế toán, hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng các giải pháp phần mềm cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đặc biệt, các trường đại học, các tổ chức, trung tâm trong nước và quốc tế đào tạo nguồn nhân lực kế toán, kiểm toán cần chủ động xây dựng chương trình đào tạo. Nhà trường phải nghiên cứu chương trình đào tạo phù hợp thực tiễn hành nghề; Xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán, kiểm toán Việt Nam; Tích cực trao đổi và tiếp thu kinh nghiệm từ các quốc gia có hệ thống kế toán phát triển cũng như các tổ chức ban hành chuẩn mực quốc tế; Thúc đẩy các nhóm nghiên cứu khoa học về những lĩnh vực kế toán, kiểm toán.
Chương trình đào tạo của nhà trường về lĩnh vực kế toán, kiểm toán cũng cần phải được đổi mới theo hướng trang bị kiến thức và kỹ năng cho học viên phù hợp với thực trạng Việt Nam và chuẩn bị hành trang cho hội nhập. Chương trình giảng dạy, tài liệu giảng dạy phải được thiết kế lại cho phù hợp và cập nhật thường xuyên các chuẩn mực kế toán ban hành. Không chỉ vậy, các trường đại học, cao đẳng và những nơi đào tạo chuyên ngành kế toán, kiểm toán… cần làm tốt vai trò cầu nối cho doanh nghiệp và phát huy tốt vai trò hướng dẫn cũng như thu thập các ý kiến đóng góp từ phía doanh nghiệp.
Thứ ba, hệ thống doanh nghiệp cần ủng hộ cũng như thể hiện sự thiện chí trong thực hiện các chuẩn mực kế toán, kiểm toán mới: Các giải pháp hội nhập quốc tế và hệ thống kế toán, kiểm toán của doanh nghiệp Việt Nam được xét theo sự phát triển của thị trường chứng khoán, thị trường tài chính, biến động của môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam. Do vậy, doanh nghiệp cần ủng hộ tích cực những chuẩn mực mới. Trước hết, đó là nỗ lực đầu tư xây dựng một đội ngũ nhân viên kế toán và tài chính có năng lực; Xây dựng hệ thống công nghệ có đảm bảo xử lý và lưu trữ toàn bộ dữ liệu một cách đầy đủ, chính xác, đảm bảo tuân thủ các chuẩn mực kế toán áp dụng. Ngoài ra, trên cơ sở hành lang pháp lý sẵn có, chuẩn mực, chế độ kế toán, kiểm toán hiện hành, các doanh nghiệp phải tự xây dựng chính sách kế toán, kiểm toán riêng của mình. Đặc biệt, các doanh nghiệp cần có kế hoạch đào tạo, huấn luyện các nhân viên kế toán hiểu biết các chuẩn mực kế toán, kiểm toán và cập nhật các chế độ kế toán mới, các quy định về thuế hiện hành… Giải pháp này không chỉ giúp doanh nghiệp tuân thủ các quy định hiện hành mà còn giúp việc lập và trình bày báo cáo tài chính trung thực, khách quan hơn.
Thứ tư, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật, chuẩn mực, chế độ kế toán, kiểm toán và triệt để xử lý những sai phạm nhằm duy trì chất lượng của dịch vụ.
Thứ năm, đẩy mạnh sự phát triển của tổ chức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán thành tổ chức nghề nghiệp chuyên nghiệp, độc lập và tự quản trên cơ sở chuyển giao, hỗ trợ cơ quan nhà nước trong việc phát triển và duy trì nghề nghiệp theo hướng xã hội hóa. Tạo môi trường cạnh tranh công bằng trong lĩnh vực kiểm toán, góp phần thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của hoạt động kiểm toán.
Thứ sáu, tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác, nâng cao vị thế của hệ thống kế toán, kiểm toán Việt Nam trên trường quốc tế.

Theo BaoMoi.Com

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

Thuê đầu số để cung cấp tin nhắn chứng khoán lừa

Lợi dụng tên tuổi của thành lập công ty chứng khoán có thị phần môi giới lớn nhất Việt Nam, một đơn vị vốn chuyên về dịch vụ kế toán đã thuê đầu số 6733 để cung cấp tin nhắn chứng khoán lừa với giá 15.000 đồng mỗi SMS.
Theo tìm hiểu của VnExpress.net, Công ty cổ phần tổ hợp giáo dục và truyền thông OTM (vốn chuyên về dịch vụ kế toán) đã thuê lại đầu số 6733 của một đơn vị khác để cung cấp dịch vụ tin nhắn chứng khoán. Ngay sau khi cung cấp dịch vụ một thời gian ngắn, OTM đã bị Công ty cổ phần chứng khoán Thăng Long tố cáo mạo danh họ khi cung cấp dịch vụ.
Đại diện của Công ty cổ phần đầu tư và dịch vụ Bưu điện (đơn vị sở hữu đầu số 6733) cho biết, công ty có thỏa thuận hợp tác với OTM để cung cấp dịch vụ tư vấn chứng khoán qua tin nhắn. Theo đó, OTM sẽ thuê lại đầu số 6733 để cung cấp dịch vụ với giá 15.000 đồng cho một tin nhắn và cam kết thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong thời gian thử nghiệm, phía OTM đã không tuân thủ quy định nên đã bị chấm dứt hợp tác.
Khi cung cấp dịch vụ tin nhắn tư vấn chứng khoán, Công ty OTM đã thêm
Khi cung cấp dịch vụ tin nhắn tư vấn chứng khoán, Công ty OTM đã thêm "hiệu ứng đặc biệt" từ Công ty chứng khoán Thăng Long. Ảnh chụp màn hình
Vị lãnh đạo của công ty sở hữu đầu số 6733 than thở, họ không thể kiểm soát được việc OTM quảng cáo mạo danh đơn vị khác để chèo kéo khách hàng. Ông này cũng cho biết, do OTM mới đưa thông tin lên website của mình, chưa quảng cáo rộng rãi trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng nên mức độ ảnh hưởng chưa lớn.
Bình luận về việc OTM cung cấp tin nhắn chứng khoán mạo danh, giám đốc một doanh nghiệp dịch vụ nội dung trên mạng di động cho biết, tin nhắn loại 15.000 đồng chủ yếu dành cho games hoặc thuê bao cả tháng về một dịch vụ nào đó. Đối với dịch vụ một lần chỉ có vài thông tin dạng text thì phải có hiệu ứng đặc biệt mới có khả năng hút khách.
“Với chứng khoán, việc bỏ ra có 15.000 đồng mà có được mã cổ phiếu đầu tư đem lại lợi nhuận cao thì quá rẻ. Điều này cộng với thông tin về sự hợp tác của công ty chứng khoán có thị phần môi giới lớn nhất Việt Nam và một chuyên gia phân tích chứng khoán có uy tín sẽ giúp cho dịch vụ trở nên đáng tin hơn. Tuy nhiên, khi thông tin được cung cấp là không chính xác thì chẳng khác nào lừa khách hàng”, ông này bình luận về cách thức quảng bá mạo danh của Công ty OTM.
Tổng giám đốc một công ty tin nhắn lớn có trụ sở ở Hà Nội cho biết, vào thời điểm hiện tại, số lượng công ty cung cấp dịch vụ nội dung lên tới con số hàng nghìn và chủ yếu là thuê lại đầu số. Trong số này, có không ít thành lập công ty làm ăn chụp giật, làm ảnh hưởng xấu đến các đơn vị làm ăn chân chính. “Những công ty như vậy khi bị cắt hợp tác với đầu số này lại chuyển qua đầu số khác với một cái tên mới để hoạt động. Đó là một thực tế”, ông này cho biết.
Trao đổi với VnExpress.net, đại diện của Công ty chứng khoán Thăng Long cho biết, họ đang đợi kết quả điều tra của cơ quan chức năng liên quan đến việc mạo danh do Công ty OTM thực hiện. “Khi cơ quan chức năng có kết luận, chúng tôi sẽ công bố thông tin chính xác”, ông này cho biết.
Trong khi đó, sau một thời gian điều tra nội bộ, Công ty OTM cũng chưa đưa ra bất cứ thông tin phản hồi nào về sự việc nêu trên.
Hoàng Ly
Theo VnExpress.NET

Thứ Năm, 31 tháng 7, 2014

Chất lượng kiểm toán viên chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập

Chất lượng dịch vụ kế toán chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập

(Dân trí) - Cả nước có khoảng 1.800 người được cấp chứng chỉ kiểm toán viên, tuy nhiên chất lượng đội ngũ kiểm toán viên và chất lượng dịch vụ kiểm toán còn chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

(ảnh minh họa)
 
Theo tờ trình về dự án Luật Kiểm toán độc lập mà Chính phủ gửi Quốc hội, sau 19 năm hoạt động, kiểm toán độc lập đã phát triển nhanh về số lượng và quy mô cũng như nâng cao năng lực chuyên môn, chất lượng dịch vụ cung cấp.
 
Đến tháng 6/2010 cả nước đã có 162 doanh nghiệp dịch vụ kế toán, kiểm toán với trên 6.700 người làm việc. Hầu hết các dịch vụ cung cấp cho khách hàng ngày càng được tín nhiệm, được xã hội thừa nhận.
 
Tuy nhiên, đối tượng khách hàng chủ yếu là kiểm toán các doanh nghiệp lớn ở một số lĩnh vực gồm: các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng và các tổ chức tín dụng, công ty cổ phần niêm yết, công ty cổ phần đại chúng, công ty bảo hiểm, các dự án xây dựng bằng vốn Nhà nước và dự án của tổ chức quốc tế... Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa thực hiện dịch vụ kế toán.
 
Cũng tính đến tháng 6, cả nước có khoảng 1.800 người được cấp chứng chỉ dịch vụ kế toán viên, tuy nhiên số lượng kiểm toán viên làm việc tại các công ty dịch vụ kế toán khoảng 1.200 người, bình quân mỗi công ty kiểm toán có 8 kiểm toán viên. So với nhu cầu kiểm toán ngày càng tăng thì số lượng kiểm toán viên hiện có còn hạn chế.
 
Chất lượng đội ngũ kiểm toán viên và chất lượng dịch vụ kiểm toán còn chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Ngoài kiểm toán viên của các công ty kiểm toán lớn, đa số các kiểm toán viên còn lại ở các công ty hiện nay chưa được đào tạo một cách bài bản về kỹ năng hành nghề chuyên nghiệp. Số lượng kiểm toán viên có chứng chỉ kiểm toán quốc tế còn hạn chế (khoảng 480 người).
 
Việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật hành nghề của kiểm toán viên đôi khi vẫn chưa được nhận thức một cách đầy đủ, chưa trở thành ý thức tự giác đối với mỗi kiểm toán viên khi hành nghề. Chế tài xử phạt hành vi vi phạm của kiểm toán viên chưa đủ mạnh để phòng ngừa và răn đe nên cũng ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán.
 
Bên cạnh đó, nhiều công ty kiểm toán mới thành lập quá nhỏ, số lượng kiểm toán viên có chứng chỉ chỉ đạt mức yêu cầu tối thiểu (3 người), trong đó thậm chí có người còn làm kiêm nhiệm công tác quản lý. Tỷ lệ nhân viên có chứng chỉ dịch vụ kế toán viên còn quá thấp, hay xáo trộn... Những điều đó đã dẫn đến chất lượng dịch vụ của một số công ty kiểm toán nhỏ vẫn chưa đạt yêu cầu.
 
Việc kiểm soát hoạt động của các kiểm toán viên đã được Bộ Tài chính phối hợp với Hội nghề nghiệp triển khai từ khi có hoạt động dịch vụ kế toán độc lập, tuy nhiên việc kiểm tra mới chủ yếu đánh giá về việc tuân thủ pháp luật và các quy định về dịch vụ kế toán mà chưa đi sâu vào đánh giá chất lượng kết luận của báo cáo kiểm toán, nguyên do là Bộ Tài chính và Hội nghề nghiệp không có đủ lực lượng cán bộ có chứng chỉ hành nghề để thực hiện kiểm tra (vì người đi kiểm tra đòi hỏi cũng phải có chứng chỉ hành nghề).
 
Theo tờ trình của Chính phủ, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trên là: Pháp luật về kiểm toán độc lập chưa hoàn chỉnh, văn bản pháp luật cao nhất mới ở cấp Nghị định Chính phủ, trong khi các lĩnh vực khác đã được luật hoá (như chứng khoán, ngân hàng, kiểm toán nhà nước,...).
 
Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, các yếu tố của thị trường dịch vụ tài chính trong đó có dịch vụ kiểm toán vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh, tập quán, nhu cầu sử dụng kiểm toán độc lập chưa cao. Năng lực quản lý nhà nước về kiểm toán độc lập còn hạn chế do thiếu cơ sở pháp lý, quy trình công nghệ quản lý chưa cao, chưa có kinh nghiệm.
 
Do đó, việc ban hành luật sẽ tạo ra một khung pháp lý cao nhất về kiểm toán độc lập, tạo điều kiện cho dịch vụ kế toán phát triển. Dự thảo luật quy định chặt chẽ hơn, yêu cầu cao hơn về điều kiện thành lập và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán, điều kiện để cấp chứng chỉ kiểm toán viên, điều kiện hành nghề kiểm toán...; quy định về các nguyên tắc kiểm toán, nội dung kiểm toán, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp kiểm toán, của kiểm toán viên hành nghề và các điều bị nghiêm cấm, hạn chế để đảm bảo nâng cao chất lượng dịch vụ và tính độc lập của ngành nghề này.
 
Những nội dung này là cần thiết, nhằm điều chỉnh các hành vi của doanh nghiệp kiểm toán, kiểm toán viên trong suốt quá trình hoạt động; đó cũng là tiêu chí, điều kiện để cơ quan quản lý nhà nước giám sát chất lượng đối với ngành nghề này. Lĩnh vực kiểm toán mang tính chất dịch vụ chuyên ngành, hoạt động kiểm toán cũng có những điều kiện riêng và đây là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.
 
Mặt khác, hoạt động kiểm toán có phạm vi ảnh hưởng khá rộng, không chỉ cơ quan quản lý nhà nước sử dụng báo cáo kiểm toán mà còn các tổ chức, doanh nghiệp và công chúng đầu tư. Việc ban hành khuôn khổ pháp lý cao, chặt chẽ, sẽ tạo điều kiện cho công tác giám sát chất lượng, phòng ngừa những thiệt hại cho nền kinh tế cũng như cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư.
 
Việc ban hành Luật Kiểm toán độc lập cũng sẽ nâng cao vai trò của cơ quan quản lý nhà nước thông qua việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động doanh nghiệp kiểm toán, cấp chứng chỉ kiểm toán viên và các biện pháp nhằm nâng cao năng lực giám sát, cưỡng chế thực thi, xử lý vi phạm trong lĩnh vực kiểm toán.
 
Luật Kiểm toán độc lập sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận với dịch vụ kiểm toán, trong đó có doanh nghiệp có liên quan đến lợi ích công chúng bắt buộc phải kiểm toán…
 
An Hạ
Bài gốc: http://dantri.com.vn/kinh-doanh/chat-luong-kiem-toan-vien-chua-dap-ung-yeu-cau-hoi-nhap-436588.htm